Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Hàng hoá, dịch vụ phải đăng ký hợp đồng theo mẫu: Giằng co giữa lý với tình

Theo Dự thảo danh mục hàng hóa, dịch vụ mà Chính phủ ban hành thì hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu.
Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung đang được Bộ Công thương gấp rút hoàn chỉnh trình Chính phủ ban hành để kịp có hiệu lực từ ngày 1/1/2012. Sẽ không có gì phải giằng co nếu như hai từ “thiết yếu” được làm rõ ngay từ Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD).

Bảo vệ người giàu?
Theo bản Dự thảo mới nhất vừa được Bộ Công thương đưa ra lấy ý kiến, có 15 loại dịch vụ, hàng hóa trong danh mục này, trong đó có những hàng hóa, dịch vụ mà nhiều người cảm nhận là không thiết yếu lắm.

“Tôi rất mừng là ôtô, nhà ở được xếp và loại hàng hoá thiết yếu. Như vậy thì dân ta quá giàu!”- ông Phùng Đắc Lộc, Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (VN)phát biểu. Ông Lộc cho rằng, nói đến hàng hóa, dịch vụ thiết yếu là nói đến những thứ phục vụ cho cuộc sống hàng ngày mà không có không sống được. Trong danh mục hàng hóa, dịch vụ đó thì bảo hiểm mới là cuối cùng. “Bảo hiểm mà được đưa vào danh mục hàng hóa, dịch vụ, thiết yếu thì nằm mơ tôi cũng không thấy được thị trường bảo hiểm lại phát triển đến vậy!”. Ông Lộc nói.

Theo Luật sư Trương Thanh Đức, Phó Tổng Giám đốc Maritime Bank, trong danh mục 15 hàng hóa, dịch vụ đó nhặt ra chỉ có 3 dịch vụ tạm được coi là “thiết yếu”, đó là dịch vụ cung cấp điện sinh hoạt; dịch vụ cung cấp nước sạch sinh hoạt; dịch vụ thuê bao điện thoại cố định. Ông Trương Đình Song, Hiệp hội Ngân hàng VN thẳng thừng: “ Chỉ có 2 dịch vụ là cung cấp điện sinh hoạt và cung cấp nước sạch sinh hoạt là thiết yếu, còn lại là hàng hóa, dịch vụ cho người giàu”. Ông Song đề nghị: “Như vậy nên chăng gọi là danh mục hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký hợp đồng theo mẫu”.

Một loạt các hàng hóa, dịch vụ mà Dự thảo đưa ra được nhiều ý kiến xếp vào dịch vụ cho người giàu như: Mua, bán ôtô mới, mua bán nhà, căn hộ mới; dịch vụ quản lý khu đô thị, khu chung cư; dịch vụ cung cấp điện sinh hoạt; dịch vụ cung cấp nước sạch sinh hoạt; dịch vụ truyền hình trả tiền; dịch vụ thẻ sử dụng máy rút tiền tự động (ATM); dịch vụ thẻ tín dụng (Credit Card)...
Thêm thủ tục hành chính
Theo Cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công thương), ông Bạch Văn Mừng, danh mục hàng hóa dịch vụ này không cố định mà có thể bổ sung hoặc bỏ ra tùy theo tình hình, và việc đăng ký hợp đồng theo mẫu với cơ quan Nhà nước (Bộ Công thương) rất đơn giản. Cơ quan này chỉ xem và “thổi còi” các chi tiết bất lợi đến quyền lợi NTD, còn các chi tiết khác như DN bán hàng hóa dịch vụ với giá nào, cơ quan này không can thiệp. Tuy nhiên, ông Vũ Anh (Vinaconec) lại tỏ ra nghi ngờ vì quy trình trả đi, nộp lại, rồi lại sửa, trả... không phải là ngày một ngày hai, nhất là khi cơ quan quản lý Nhà nước phải có ý kiến chứ không phải đăng ký một cách tự động, cứ đưa lên không có ý kiến là cứ thế mà triển khai... Ông Anh đề nghị không nên đưa ôtô, nhà ở vào danh mục này.

“Khi chung cư đang lên cơn sốt, hợp đồng đưa ra kiểu gì người mua cũng ký, nhưng khi thị trường ế ẩm, người mua soi rất kỹ, yêu cầu sửa hợp đồng, yêu cầu nào chúng tôi cũng đồng ý hết, chưa kể với mỗi khách hàng, loại sản phẩm lại có hợp đồng khác nhau...”, ông Anh nói.

Còn ông Phùng Đắc Lộc cho biết, trước đây, Bộ Tài chính đã có công văn đề nghị không đưa bảo hiểm vào danh mục này. “Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm do Chính phủ ban hành, Chính phủ giao Bộ Tài chính. Mỗi sản phẩm có mẫu hợp đồng riêng, DN bảo hiểm không được sửa một chữ. Thậm chí DN Bảo hiểm ra sản phẩm mới Bộ Tài chính phê duyệt mới được bán, trình lên trình xuống cũng mất 5-6 tháng, các DN cho đó là một loại giấy phép con. Giờ lại bắt đăng ký với Bộ Công thương, chẳng lẽ bắt Chính phủ đăng ký với Chính phủ?”, ông Lộc phân tích. “Thêm nữa, theo quy định của WTO, các chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài được bán bảo hiểm, xong nó đưa về công ty mẹ hết, liệu Bộ Công thương có quản lý được không?”. Câu hỏi không có câu trả lời ngoài việc cơ quan soạn thảo lưu ý theo Luật Bảo vệ quyền lợi NTD, nếu DN vẫn duy trì những điều khoản bất lợi cho NTD thì khi tranh chấp xảy ra đương nhiên những điều khoản đó vô hiệu.

Mổ xẻ khái niệm “thiết yếu”
4 tiêu chí xác định Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung

1. Hàng hóa, dịch vụ thường được các tổ chức, cá nhân kinh doanh sử dụng hình thức hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung khi giao kết với NTD.

2. Hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày, thường xuyên của nhiều NTD.

3. Hàng hóa, dịch vụ do một hoặc một nhóm DN có vị trí độc quyền hoặc DN có vị trí thống lĩnh thị trường cung cấp.

4. Hàng hóa, dịch vụ mà trên thực tiễn ghi nhận nhiều trường hợp xảy ra vi phạm quyền lợi của NTD thông qua hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

(Theo Tờ trình của Bộ Công thương)
Khoản 1, Điều 19, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải đăng ký hợp đồng theo mẫu sẵn, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi NTD”.

Tuy nhiên, Luật lại không giải thích như thế nào là “thiết yếu”, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật cũng không. Theo Từ điển tiếng Việt năm 1992 của Viện ngôn ngữ học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, thì: “Thiết yếu là rất cần thiết, không thể thiếu được”. Sưu tầm các vào bản quy định về hàng hoá, dịch vụ “thiết yếu” từ năm 1980 đến nay, Luật sư Thương Thanh Đức cũng không tìm được sự đồng cảm giữa các loại hàng hóa, dịch vụ mà Dự thảo đưa ra với các văn bản trước đó đã ban hành. “Mỗi thời một khác, khi thì lương thực, chất đốt, nước mắm, xà phòng..., thậm chí là sắt thép, xi măng..., nhưng chẳng có hàng hóa, dịch vụ nào như kiểu ôtô, nhà ở”, Luật sư Đức quả quyết.

Theo tờ trình của Bộ Công thương, thì Bộ này đã đưa ra 4 tiêu chí để lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đưa vào danh mục phải đăng ký hợp đồng mẫu, trong đó “thiết yếu” chỉ là một trong 4 tiêu chí. “Khi xây dựng luật này, các nhà làm luật cũng băn khoăn hai từ “thiết yếu”, nhưng nhận thấy đây là vấn đề bức xúc, cần phải bảo vệ, cuối cùng các đại biểu quốc hội cũng thông qua. Thiết yếu ở đây được hiểu là bảo vệ NTD...”, ông Mừng giải thích. “Cái tình lớn nhất là bảo vệ NTD. Đó là việc cần thiết và tôi cho rằng cần nhiều hàng hóa, dịch vụ đưa vào danh mục này hơn. Nhưng nếu như thế này thì trái luật quá!”, Luật sư Trương Thanh Đức băn khoăn. Theo LS Đức, trong trường hợp muốn mở rộng phạm vi đăng ký như Dự thảo, thì phải sửa đổi Luật Bảo vệ quyền lợi NTD hoặc ít nhất là cũng cần hợp pháp hóaoá trong Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TƯ CÁCH PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP

Trong đời sống xã hội, con người giao tiếp với nhau trên rất nhiều lĩnh vực: tín ngưỡng, tình cảm, văn học nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, chính trị, kinh doanh…Có thể nói ở hầu hết hết các lĩnh vực đó đều có sự điều chỉnh của Nhà nước bằng công cụ pháp luật xuất phát từ yêu cầu quản lývà kiểm soát mọi hoạt động đang diễn ra trong xã hội nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị và an ninh trật tự công cộng. Những quan hệ xã hội (quan hệ người – người) phù hợp quy định của pháp luật thì được Nhà nước bảo vệ và khuyến khích phát triển.
Ngược lại, những quan hệ bất hợp pháp sẽ bị ngăn chặn, xử lý. Nhằm xác định tính hợp pháp hay không đối với từng loại hoạt động nhất định, con người (cá thể hoặc nhóm) trước pháp luật được Nhà nước công nhận một tư cách pháp lý. Trong bài này, người viết muốn góp một số ý kiến về việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tư cách pháp lý của doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh.
1. Các loại tư cách pháp lý
Trong quan hệ giữa người với người, các bên được gọi là chủ thể. Trên nguyên tắc, mọi cá nhân đều có tư cách pháp lý, nhưng với tổ chức thì không phải. Để được Nhà nước công nhận có tư cách pháp lý, chủ thể cần phải đáp ứng ít nhất một hoặc cả hai điều kiện sau:

- Có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (năng lực pháp luật)
- Có khả năng thực tế (được pháp luật thừa nhận) để thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý (năng lực hành vi)
a. Tư cách thể nhân là tư cách pháp lý được Nhà nước công nhận cho một cá nhân (con người bằng xương, bằng thịt). Người này được gọi là thể nhân. Mỗi cá nhân đang hiện hữu trong xã hội đều được Nhà nước công nhận tư cách thể nhân, bất kể họ đã trưởng thành hay chưa, có nhận thức được hoặc phát triển có bình thường hay không. Điều này nhằm ràng buộc mọi con người sống trong cộng đồng phải hành xử trong khuôn khổ pháp luật, không được “sống ngoài vòng pháp luật” để có thể thực hiện những hành vi nguy hiểm, xâm hại người khác, phá vỡ trật tự chung nhưng lại lẩn tránh sự trừng phạt của Nhà nước. Thể nhân không nhất thiết phải có đầy đủ cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhưng không ai là không có năng lực pháp luật: “ Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” (Điều 16 Bộ luật dân sự năm 1995).
- Nếu chỉ có năng lực pháp luật, thể nhân chỉ tham gia quan hệ pháp luật một cách gián tiếp, nghĩa là phải thông qua người đại diện trước pháp luật ( thí dụ: giám hộ của người bị bệnh tâm thần nhưng có tài sản được hưởng thừa kế, có quyền nhân danh người này để góp vốn vào công ty nhằm phục vụ lợi ích cho người bị bệnh). Khi ấy, thể nhân không có tư cách pháp lý độc lập vì không thể tự mình quyết định hành xử quyền của chính mình, cũng không chịu trách nhiệm pháp lý nếu gây tổn hại cho người khác (thí dụ người tâm thần đốt nhà, hủy hoại tài sản của người khác thì giám hộ của người này phải bồi thường thay).
- Nếu có cả năng lực pháp luật lẫn năng lực hành vi, thể nhân có quyền tham gia quan hệ pháp luật một cách trực tiếp, tự mình quyết định và trực tiếp hành xử các quyền luật định, cũng như hoàn toàn có khả năng gánh vác mọi hậu quả pháp lý bất lợi (bị xử phạt)khi vi phạm pháp luật mà không có ai phải chịu trách nhiệm thay. Nguyên tắc chung là người thành niên (đã đủ 18 tuổi), có nhận thức bình thường và không mắc khuyết tật nghiêm trọng về thể chất như mù loà, câm điếc, liệt chi…đều là thể nhân có tư cách pháp lý độc lập.
b. Tư cách pháp nhân là tư cách pháp lý được Nhà nước công nhận cho một tổ chức (nhóm người) có khả tồn tại và hoạt động độc lập trước pháp luật. Tổ chức này được gọi là pháp nhân (là con người trên phương diện pháp lý chứ không phải con người thực thể). Khác với thể nhân, không phải tổ chức nào, tập thể nào cũng đều được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân. Theo điều 94 BLDS năm 1995, một tổ chức muốn được công nhận tư cách pháp nhân phải hội dủ các điều kiện cơ bản sau:
- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ xã hội một cách độc lập.
Một pháp nhân luôn luôn đảm bảo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Theo điều 110 BLDS năm 1995, ở nước ta có các loại pháp nhân sau:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang;
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội;
- Tổ chức kinh tế;
- Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp;
- Quỹ xã hội, quỹ từ thiện;
- Các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại điều 94 BLDS.
Ngoài thể nhân, pháp nhân, những tổ chức không đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên cũng có thể được Nhà nước công nhận tư cách pháp lý nhưng không tồn tại độc lập trước pháp luật, mà phía sau nó luôn có một hoặc một số chủ thể độc lập khác điều khiển và chịu trách nhiệm về hoạt động của nó.
c. Một số tư cách pháp lý đặc biệt:
Hộ gia đình, tổ hợp tác là những tập thể chỉ được luật pháp cho phép tham gia một số quan hệ pháp luật nhất định như: quan hệ đất đai, quan hệ dân sự, thương mại,…nhưng lại đòi hỏi các thành viên của tập thể phải liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân đối với các nghĩa vụ tài sản của tập thể, nếu tài sản chung không đủ đảm bảo (xem Bộ luật dân sự 1995, chương IV từ điều 116 đến 129).
Các đơn vị trực thuộc một pháp nhân như văn phòng đại diện, chi nhánh đều hoạt động dưới danh nghĩa của pháp nhân. Pháp nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện (điều 100 bộ luật dân sự).
Như vậy, các chủ thể trên không có tư cách pháp lý độc lập, chỉ tham gia những quan hệ mà pháp luật cho phép.
2. Các loại chủ thể phổ biến tham gia quan hệ kinh doanh
Quan hệ kinh doanh thường diễn ra trên hai lĩnh vực: quản lý nhà nước và giữa người kinh doanh với các đối tượng khác trong sản xuất, trao đổi, lưu thông, phân phối,… Theo đó chủ thể tham gia các quan hệ này thường bao gồm:
- Cơ quan nhà nước (phòng đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, quản lý thị trường, hải quan , thanh tra…).
- Người lao động.
- Nhà đầu tư (thành viên góp vốn, liên doanh, liên kết, chủ nợ,…).
- Người tiêu thụ.
- Doanh nghiệp.
Theo luật, cơ quan nhà nước là pháp nhân. Người lao động là cá nhân đủ 15 tuổi trở lên, có sức khỏe, tay nghề đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng…Có tư cách thể nhân. Nhà đầu tư, người tiêu thụ, tùy từng đối tượng có thể là pháp nhân, thể nhân, hộ gia đình , tổ hợp tác…
Riêng về doanh nghiệp, nền kinh tế nước ta hiện đang tồn tại rất nhiều loại hình kinh doanh khác nhau: hộ cá thể, nhóm kinh doanh, doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam…Xét ở góc độ pháp lý, có thể chia các loại hình kinh doanh nói trên làm hai loại: doanh nghiệp (kinh doanh ở quy mô đủ lớn) và các chủ thể kinh doanh nhỏ (hộ cá thể, nhóm kinh doanh). Hai loại hình này được điều chỉnh bởi các quy chế pháp lý khác nhau. Thí dụ doanh nghiệp phải hạch toán sổ sách với sự giám sát chặt chẽ của cơ quan tài chính, phải nộp các khoản thuế riêng rẽ theo các luật thuế, có thể được tuyên bố phá sản…Còn các chủ thể kinh doanh nhỏ thì không áp dụng những quy chế trên.
Hiện nay có 9 loại hình doanh nghiệp đang hoat động theo luật (không kể các doanh nghiệp đoàn thể của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội đang trong quá trình chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Nghị định 63 của Chính phủ). Đó là:
- Doanh nghiệp nhà nước được đầu tư 100% vốn ngân sách, hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995.
- Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ của người lao động để giúp nhau thực hiên có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống – hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 1996.
- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 1999, bao gồm:
+ Doanh nghiệp tư nhân, do một cá nhân duy nhất làm chủ đầu tư.
+ Công ty TNHH 1 thành viên, do một tổ chức có tư cách pháp nhân làm chủ đầu tư.
+ Công ty TNHH nhiều thành viên do các nhà dầu tư có quan hệ thân thiết với nhau liên kết thành lập nhằm mục đích sinh lợi, mỗi chủ đầu tư chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp đến hết phần vốn góp của mình.
+ Công ty cổ phần là doanh nghiệp có quyền huy động vốn góp bằng cách bán cổ phần ra công chúng với mệnh giá thấp. Cổ đông tham gia được xác nhận vốn góp bằng cổ phiếu (là một loại chứng khoán) nên thuận lợi trong việc chuyển nhượng và chỉ chịu trách nhiệm đối với hoạt động của công ty trong phạm vi vốn góp.
+ Công ty hợp danh là công ty được thành lập và quản lý bởi các thành viên hợp danh. Thành viên hợp danh là những cá nhân có quan hệ mật thiết và tín nhiệm lẫn nhau, đồng thời cũng là những nhà quản trị có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh, họ phải liên đới chịu trách nhiệm trên toàn bộ sản nghiệp của mình đối với các nghĩa vụ tài sản của công ty.
- Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000), bao gồm :
+ Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở liên kết giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài thành lập và làm chủ.
(Theo Luật thương mại năm 1997, các cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nếu có đủ điều kiện hoạt động thương mại và đã có đăng ký kinh doanh với cấp có thẩm quyền thì được gọi là thương nhân).
Tất cả các doanh nghiệp nêu trên đều được Nhà nước công nhận tư cách pháp lý để tham gia quan hệ kinh doanh.
3. Một vài suy nghĩ về cách hiểu và sử dụng thuật ngữ “tư cách pháp nhân” của một bộ phận người tham gia kinh doanh
- Nhầm lẫn giữa tư cách pháp nhân với tư cách pháp lý nói chung.
Như đã nêu, tư cách pháp nhân chỉ được công nhận cho tổ chức. Không thể nói rằng chính quyền địa phương xác nhận tư cách pháp nhân cho ông A, bà B để đứng ra lập công ty hay để được bổ nhiệm vào một chức vụ quản lý nào đó.
Cũng không thể cho rằng một doanh nghiệp, thí dụ doanh nghiệp tư nhân (DNTN), vì chỉ có một cá nhân duy nhất đầu tư, làm chủ và phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh bằng tất cả sản nghiệp của chính mình (kể cả tài sản ngoài kinh doanh), từ đó đi đến nhận thức rằng doanh nghiệp đó có tư cách thể nhân. Ơ đây cần có sự phân biệt tư cách pháp lý của một đơn vị kinh doanh với tư cách của người tạo lập ra nó. Đơn vị kinh doanh, dù thuộc loại hình nào, cũng luôn luôn là một tổ chức mà ở nơi đó có sự kết hợp các yếu tố vốn đầu tư (của chủ doanh nghiệp), sức lao động (của người làm thuê, và cũng có thể của chính người bỏ vốn) cùng với cơ sở vật chất như nhà xưởng, thiết bị, dây chuyền sản xuất,…để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt đối với doanh nghiệp, một trong những dấu hiệu phân biệt với các loại hình kinh doanh nhỏ là phải có nhu cầu thuê lao động thường xuyên. Khó có thể hình dung một doanh nghiệp (không phải chủ thể kinh doanh nhỏ) làm ăn chân chính lại chỉ có duy nhất một người bỏ vốn tự thân hoạt động, tự giao dịch, tự điều hành, quản lý, kể cả hạch toán sổ sách, trông coi tài sản,…tồn tại trên thực tế ?? Trong trường hợp này, rõ ràng chủ doanh nghiệp có tư cách thể nhân chứ doanh nghiệp thì không!.
Tuy nhiên DNTN cũng không có tư cách pháp nhân vì không chịu trách nhiệm độc lập đối với nợ nần trong kinh doanh. Người chịu trách nhiệm là chủ doanh nghiệp : “DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” (Điều 99 Luật doanh nghiệp). Nếu thua lỗ nghiêm trọng, chủ DNTN phải dùng cả tài sản riêng không đầu tư kinh doanh để chi trả cho kỳ hết nợ mới thôi. Như vậy, DNTN không thể tiếp tục hoạt động khi chủ của nó mất năng lực trách nhiệm dân sự (phát bệnh tâm thần, tử vong,…). Ngoài ra, một trong những nét đặc trưng của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam là phải có một khối tài sản riêng độc lập với tất cả chủ thể khác, kể cả những người đã tạo lập ra nó. Điều này nhằm đảm bảo năng lực trách nhiệm dân sự độc lập như đã nêu trên. Thế nhưng, DNTN lại không sở hữu bất kỳ một tài sản nào vì “Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp” (Điều 22.2 Luật doanh nghiệp). DNTN chỉ được quyền sử dụng tài sản (thông qua người quản lý ) mà không có quyền sở hữu, nên vì thế nó không có quyền độc lập về tài sản trong kinh doanh. Như vậy, không phải tổ chức nào cũng có tư cách pháp nhân. Có thể hiểu DNTN có tư cách pháp lý hạn chế trong kinh doanh, hoạt động phụ thuộc vào danh nghĩa và năng lực pháp lý của người chủ doanh nghiệp.
- Một nhận thức nữa cũng lệch lạc khi cho rằng mọi tổ chức ra đời và hoạt động hợp pháp đều có tư cách pháp nhân.
Tính chất hợp pháp của một doanh nghiệp chỉ chứng tỏ rằng hoạt động của nó đã được luật pháp thừa nhận. Nếu bị xâm hại, người đại diện của nó có thể khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ. Ngược lại, nếu hoạt động của nó gây thiệt hại cho người khác, nó bị buộc phải chấm. Dứt và có thể phải khắc phục hậu quả. Còn khả năng hoạt động một cách độc lập trong quan hệ pháp lý thì lại phụ thuộc vào việc đáp ứng các yêu cầu luật định như đã nói ở trên. Sự tồn tại của các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh (CTHD), các chi nhánh, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp đã thể hiện rõ điều đó. Đằng sau DNTN và CTHD là các ông chủ doanh nghiệp, còn phía sau các chi nhánh, văn phòng đại diện là các doanh nghiệp mà nó trực thuộc, sẽ nắm quyền quyết định (đặc biệt trong việc định đoạt tài sản), kèm theo trách nhiệm giải quyết mọi hậu quả pháp lý về tài sản do chúng gây ra.
Theo pháp luật hiện hành, để được xem là tồn tại hợp pháp, doanh nghiệp phải trải qua thủ tục đăng ký kinh doanh. Và để được chấp nhận việc đăng ký, người sáng lập chỉ cần đảm bảo cho doanh nghiệp của mình có tên, địa chỉ trụ sở theo yêu cầu luật định, có tài sản để hoạt động và thêm các chứng chỉ nếu kinh doanh những ngành nghề đặc biệt (như chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ về vốn pháp định). Như vậy, doanh nghiệp ra đời một cách hợp pháp không nhất thiết phải sở hữu một khối tài sản riêng, chẳng hạn như trường hợp được quy định ở điều 22.2 Luật doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh là những doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân dù rằng chúng được thành lập hợp pháp theo Luật doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp hợp pháp sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp con dấu tròn… Không ít người từng cho rằng con dấu đó là dấu hiệu của tư cách pháp nhân. Thật ra, con dấu chỉ là một trong những yếu tố xác định danh nghĩa của một tổ chức hợp pháp bên cạnh tên, địa chỉ trụ sở, số tài khoản, người đại diện,… Những tổ chức không độc lập cũng có đầy đủ các yếu tố trên. Vấn đề ở đây là với danh nghĩa đó, liệu chủ thể có tự nhân danh và chỉ nhân danh chính mình để hoạt động hay không? Rõ ràng có sự khác biệt rất lớn trong hoạt động của một doanh nghiệp độc lập với các doanh nghiệp không độc lập, với các đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp. Do phải dùng toàn bộ sản nghiệp để đảm bảo nợ nần của doanh nghiệp, nên khi DNTN bị phá sản thì chủ DNTN cũng đã “phá sản” theo (chỉ tình trạng phá sản thực tế của người chủ chứ pháp luật phá sản ở Việt Nam chưa áp dụng cho cá nhân). Chủ DNTN có tư cách nguyên đơn, bị đơn trong thủ tục tranh tụng liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Công ty mẹ cũng đương nhiên là nguyên đơn, bị đơn đứng ra giải quyết các hậu quả pháp lý trước toà án do chi nhánh hay văn phòng đại diện của mình gây ra. Trong khi đó, các doanh nghiệp độc lập (bao gồm doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn) dều có đầy đủ tư cách tham gia tranh tụng trực tiếp trong các vụ kiện. Khi các doanh nghiệp độc lập này bị tuyên bố phá sản, tài sản riêng của chủ doanh nghiệp (những người góp vốn) được bảo toàn mà không phải bị trưng dụng để trả nợ.
Tóm lại, không nên hiểu mọi doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân, mặc dù tất cả các loại hình kinh doanh ra đời hợp pháp đều được Nhà nước công nhận tư cách pháp lý để hoạt động. Nhưng cũng không có doanh nghiệp nào là có tư cách thể nhân. Tư cách pháp lý (bao hàm danh nghĩa pháp lý) của chủ doanh nghiệp và của doanh nghiệp là hoàn toàn tách bạch nhau, có thể độc lập hoặc phụ thuộc nhau nhưng không thể trùng nhau được.
Tư cách pháp nhân không được Nhà nước công nhận cho các tổ chức một cách đương nhiên như việc công nhận tư cách pháp lý của con người thật (cá nhân) mà phải dựa trên các điều kiện luật định. Thuật ngữ “tư cách pháp nhân không dùng để chỉ tư cách pháp lý của cá nhân. Tư cách pháp lý của mọi chủ thể là do Nhà nước công nhận chứ không phải là một sự “tự công nhận”, nhưng đối với tổ chức đó là sự công nhận minh thị (có xác nhận pháp lý , thí dụ như giấy “chứng nhận đăng ký kinh doanh” của doanh nghiệp ).
Mặt khác, để một pháp nhân có thể hành xử quyền độc lập,đặc biệt trong hoạt động kinh doanh, thì chủ đầu tư nhất thiết phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đầu tư khi thành lập doanh nghiệp. Ở tất cả các loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trừ doanh nghiệp nhà nước, sự chuyển quyền sở hữu là một yêu cầu luật định , không có gì để bàn cãi. Trong khi đó, Luật DNNN năm 1995 (điều 1) xác định minh thị tư cách pháp nhân của DNNN : “ Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý”, nhưng lại không có quy định nào về việc chuyển quyền sở hữu. Có thể nói quy định trên hoàn toàn không khả thi trong việc đảm bảo tính chủ động, độc lập cả về quyền lẫn trách nhiệm dân sự của loại hình doanh nghiệp này. Khi thành lập DNNN, Nhà nước chỉ giao quyền quản lý và sử dụng vốn, tài sản cho doanh nghiệp theo mục tiêu đã xác định (kinh doanh hoặc công ích) chứ không giao quyền sở hữu. Điều này tạo điều kịên cho cơ quan quản lý can thiệp một cách chủ quan, tuỳ tiện khi cho là cần thiết. Và hậu quả của những sự can thiệp đó là doanh nghiệp thường gặp phải những khó khăn trong những quyết định về tài chính của mình, rồi cuối cùng vẫn cứ trông chờ Chính phủ xem xét, hỗ trợ giải quyết khi làm ăn không hiệu quả. Có thể nói đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tâm lý “cha chung không ai khóc”, ỷ lại vào sự hỗ trợ từ ngân sách của những người lãnh đạo doanh nghiệp và kéo dài những tồn tại biến tướng của cơ chế bao cấp: khoanh nợ, xoá nợ,…đối với loại doanh nghiệp này. Như vậy, một lần nữa có thể thấy sự hữu ích của việc chuyển đổi từ DNNN hoạt động kinh doanh sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, khi ấy đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đầu tư như các nhà đầu tư khác. Đây là một giải pháp quan trong trên con đường tiến tới cởi trói thật sự cho DNNN, dứt khoát với tư tưởng bao cấp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Trên đây chỉ là một số ý kiến nhỏ bé nhằm hướng đến sự thống nhất trong ngôn ngữ khi sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tư cách pháp lý của doanh nghiệp, một chủ thể quan trọng của quan hệ kinh doanh.

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

Một số điều kiện về kết hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành

Điều mới dễ nhận thấy nhất là quy mô của đạo Luật Hôn nhân và gia đình lần này đã đạt mức độ hoàn chỉnh cao về dung lượng, nhắm tới việc đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong giai đọan phát triển mới của đất nước. So với 10 điều liên quan trong Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, 6 chương 35 điều của Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và 10 chương 57 điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 với 13 chương và 111 điều đã có bước tiến rất lớn, đạt tầm vóc của một bộ luật.
Nhưng việc đánh giá hiệu qủa và sự hoàn chỉnh của một văn bản pháp quy quan trọng không chỉ căn cứ vào số lượng điều khoản, mà vấn đề căn bản là phải xem xét những ưu điểm về nội dung mà văn bản đó thể hiện. Những ưu điểm như vậy trong Luật Hôn nhân và gia đình mới là rất nhiều.
Trong phạm vi bài viết ngắn này, chúng tôi xin chỉ đề cập một số điểm mới nổi trội trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc kết hôn nhằm góp phần quán triệt đầy đủ hơn nội dung của nó.
Về căn bản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vẫn giữ quy định về 3 điều kiện tối thiểu phải có để được phép kết hôn vốn đã định hình và mang tính truyền thống trong hai đạo Luật Hôn nhân và gia đình trước đây là độ tuổi, sự tự nguyện của nam nữ và thủ tục đăng ký việc kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các Điều 9 và Điều 11).
Điểm mới cần ghi nhận ở đây là: các quy định về việc đăng ký kết hôn đã cụ thể hơn và mang tính ràng buộc cao hơn. Nếu như trong các đạo Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 và năm 1986 vấn đề đăng ký kết hôn chỉ được nêu một cách ngắn gọn chung trong một điều là do ủy ban nhân dân xã, phường nơi thường trú của một trong hai đương sự công nhận và ghi vào sổ kết hôn, thì nay vấn đề này được chi tiết hóa bằng bốn điều luật.
Cụ thể: Điều 11 khẳng định dứt khoát rằng việc kết hôn phải được đăng ký trong trình tự hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại các Điều 12, 13 và 14. Ngoài ra, trong Điều 11 nhà lập pháp cảnh báo rằng: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.” Để đảm bảo thực thi quy định này, Nghị quyết 35/2000/QH.10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội (tại điểm b và c mục 3) và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp (tại các mục 1, 2 và 3) hướng dẫn: trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn thì khi họ có yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ ra bản án không công nhận họ là vợ chồng. Đây là cách xử lý mới đối với hành vi cố ý vi phạm quy định của luật về việc đăng ký kết hôn, không phụ thuộc vào yêu cầu khởi kiện của các đương sự lúc ban đầu.
Bản án phủ nhận một quan hệ pháp luật loại như vậy là để làm cơ sở giải quyết các hậu qủa khác của sự trốn tránh hoặc coi thường việc đăng ký kết hôn. Do, những nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng kia không vi phạm các điều kiện cho phép hoặc cấm kết hôn khác nên Tòa án chỉ dừng lại ở mức độ là không công nhận quan hệ vợ chồng của họ chứ không huỷ bỏ hay bắt buộc họ phải chấm dứt sự chung sống như trên.

Về các trường hợp cấm kết hôn thì ngoài việc làm rõ thêm các quy định đã có, trong điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 còn thể hiện một sự điều chỉnh và bổ sung rất đáng kể. Như tại khoản 4 Điều 10 nêu trên, trong khi cụ thể hóa trường hợp cấm kết hôn giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi thì đã bổ sung thêm việc cấm kết hôn giữa “bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”. Đây là bổ sung sáng suốt góp phần bảo vệ nền tảng đạo đức, sự trong sáng, lành mạnh và tôn ti trật tự trong quan hệ gia đình mang bản sắc luân lý đặc trưng của dân tộc Việt Nam.
Đối với một vấn đề gây tranh cãi và đang có những cách giải quyết khác nhau trên thế giới việc kết hôn của những người cùng giới tính thì thái độ của các nhà lập pháp Việt Nam thể hiện trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là dứt khoát: cấm kết hôn (khoản 5, Điều 10). ở nước ta quan hệ đồng giới tính là một hiện tượng không mới nhưng hiện nay lại đang nổi lên khá công khai, nhất là trong cư dân đô thị. Về lâu dài, thiết tưởng cần có sự tìm hiểu, thống kê và nghiên cứu đầy đủ với thái độ tôn trọng và cảm thông để áp dụng những giải pháp, pháp luật thỏa đáng hơn cho vấn đề hôn nhân đồng giới.
Bên cạnh các bổ sung trên thì chúng ta không còn tìm thấy trong đạo luật mới quy định cấm người đang mắc bệnh hoa liễu, cấm anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha kết hôn với nhau như đã từng đặt ra trong Điều 9 và 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; các điểm b và c Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.
Về trường hợp bỏ cấm đoán kết hôn đối với người đang mắc bệnh hoa liễu (và chúng ta liên tưởng đến cả người nhiễm HIV-AIDS) có lẽ mang nhiều ý nghĩa nhân đạo. Bởi lẽ, những căn bệnh trên không thể là lý do để tước bỏ quyền kết hôn của công dân khi họ có tình yêu thương và thật sự tự nguyện chấp nhận cuộc sống lứa đôi trong hoàn cảnh bệnh tật khó khăn đó. Mặt khác, đối với y học ngày nay thì việc ngăn ngừa sự lây lan và chữa trị bệnh hoa liễu không còn là nan giải nữa.
Việc không có quy định trực tiếp cấm kết hôn giữa hai người là anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha cần được hiểu như thế nào? Những người này có liên hệ về huyết thống, do đó căn cứ đoạn 2, mục 3 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì họ thuộc diện có họ trong phạm vi ba đời, không được kết hôn với nhau. Hiểu như vậy là theo đúng lô-gíc: giữa những người có họ trong phạm vi ba đời (bao gồm trực hệ và bàng hệ) đều bị cấm kết hôn, trong đó anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha thuộc trường hợp không thể cho kết hôn với nhau được!

Vấn đề kết hôn giữa con riêng của chồng và con riêng của vợ, giữa những người con nuôi hoặc giữa con đẻ với con nuôi trong một gia đình chưa từng được dự liệu trong các đạo luật hôn nhân và gia đình của chúng ta nhưng là một thực tế cần quan tâm.** Các chủ thể trên là anh chị em trong gia đình, nhưng giữa họ lại không có quan hệ huyết thống và không có quan hệ họ hàng, vậy nếu phát sinh việc kết hôn với nhau thì giải quyết ra sao ?
Về mặt đạo đức chúng ta không thể hoặc khó chấp nhận con riêng của vợ với con riêng của chồng, các người con nuôi của cùng cha mẹ nuôi hoặc con đẻ với con nuôi kết hôn với nhau, mặc dù về huyết thống không có ảnh hưởng tiêu cực cho nòi giống. Khi hai người kết hôn thuộc diện các đương sự trên yêu cầu chính quyền cho đăng ký kết hôn thì cán bộ hộ tịch không tìm ra quy định pháp luật để giải quyết. Còn đôi uyên ương lại lý sự: “Chúng tôi được làm những gì pháp luật không cấm!”. Có phải là khó xử không?


Tóm lại, những quy định về điều kiện kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có sự hoàn chỉnh, những cấm đoán kết hôn không còn cần thiết cần được dỡ bỏ, công dân được tạo thuận lợi nhiều hơn để hưởng quyền kết hôn xây dựng mái ấm gia đình – một trong những quyền con người cơ bản nhất của mỗi cá nhân.

Tuy nhiên, trong lĩnh vực này các nhà lập pháp cũng chưa phải lường hết việc phải làm.

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN – TIẾP CẬN TỪ GÓP ĐỘ PHÁP LUẬT TÀI SẢN

 
Trong xã hội hiện đại, phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (sau đây gọi là “Phần Vốn Góp”) là tài sản có giá trị lớn trong sản nghiệp của chủ sở hữu. Không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình[i], cũng không phải là sản phẩm được hình thành từ con tim và khối óc như các đối tượng của sở hữu trí tuệ, Phần Vốn Góp là kết qủa của sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty. Phần Vốn Góp và tài sản góp vốn vào công ty là hai tài sản độc lập và thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau.
Phần Vốn Góp là tài sản thuộc sản nghiệp của nguời góp vốn. Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản nghiệp của công ty nhận tài sản góp vốn. Thế nhưng, không phải lúc nào người ta cũng phân biệt được sự khác nhau này. Bài viết này chỉ nhằm cung cấp một cách hiểu đúng về Phần Vốn Góp.
1. Sự hình thành Phần Vốn Góp
Góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân. Là việc một người, thông qua hợp đồng góp vốn, chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản của mình cho công ty có tư cách pháp nhân và đổi lại, họ trở thành chủ sở hữu đối với Phần Vốn Góp của công ty đó.
1.1. Tài sản góp vốn. Tiền hoặc hiện vật. Hiện vật theo nghĩa rộng nhất, là tài sản hữu hình hoặc vô hình mà không phải là tiền, có thể kể ra đây: vàng, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại (biển hiệu, tên thương mại, mạng lưới tiêu thụ hàng hoá..).
1.2. Định giá tài sản góp vốn. Luật quyết định rằng những tài sản mà không phải là tiền (Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi) và vàng[ii] thì phải được định giá (Điều 23 Luật Doanh Nghiệp số 13 ngày 12 tháng 6 năm 1999 (sau đây gọi là “Luật Doanh Nghiệp“).

a) Phương thức định giá
Định giá theo thoả thuận giữa các bên. Các bên có thể xác định giá trị của tài sản góp vốn bằng con số cụ thể, ví dụ: 1triệu, 2 triệu đồng,…. Hoặc xác định công thức tính giá trị bằng các tham số có tác dụng làm cho giá trị của tài sản trở nên chắc chắn xác định được tại thời điểm góp vốn. Giá trị của tài sản phải được thông qua bằng nguyên tắc nhất trí. Tài sản góp vốn cũng có thể được định giá bởi một người thứ ba do các bên nhất trí chỉ định.
Định giá bởi một người thứ ba. Người thứ ba thông thường là các tổ chức định giá tài sản chuyên nghiệp (các công ty tài chính, ngân hàng…), được các bên uỷ quyền để định giá. Người thứ ba phải thực hiện công việc một cách độc lập, không chịu sự chi phối của bất kỳ bên góp vốn nào trong việc định giá.
b) Ý nghĩa của việc định giá Đối với chủ sở hữu Phần Vốn Góp. Chìa khoá để phân chia quyền lực và lợi ích tài chính trong công ty. Bằng việc góp vốn, người góp vốn được nhận Phần Vốn Góp có giá trị tương ứng với giá trị tài sản góp vốn. Giá trị Phần Vốn Góp là tham số cho rất nhiều quyền của chủ sở hữu Phần Vốn Góp: có số phiếu biểu quyết tương ứng Phần Vốn Góp; được chia lợi nhuận tương ứng Phần Vốn Góp; nhận giá trị tài sản có ròng khi giải thể hoặc phá sản công ty tương ứng Phần Vốn Góp; …
Đối với chủ nợ của pháp nhân công ty. Tài sản khi được đem góp vốn sẽ thuộc về sản nghiệp của công ty, nằm trong khối tài sản có của công ty và được dùng để đảm bảo cho các khoản nợ của công ty. Nếu tài sản được định giá cao hơn so với giá trị thực tế, các chủ nợ sẽ bị thiệt hại do giá trị của tài sản đảm bảo không tương xứng với giá trị của nghĩa vụ mà công ty phải thực hiện.
1.3. Chuyển quyền đối với tài sản góp vốn cho công ty
Với nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng của công ty và nghĩa vụ bảo đảm chất lượng đối với tài sản chuyển giao, dường như người góp vốn có những nghĩa vụ tương tự như người bán trong một hợp đồng mua bán[iii].
Chuyển giao pháp lý. Điều 22 khoản 1a, Luật Doanh Nghiệp quy định rằng đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (đối với quyền sử dụng đất), thì người góp vốn phải làm các thủ tục chuyển quyền. Điều luật dường như chỉ muốn nhấn mạnh tới nghĩa vụ tiến hành các thủ tục sang tên của người góp vốn. Thực ra, việc xác định người có nghĩa vụ làm các thủ tục đồng nghĩa với việc xác định ai phải thực hiện các nghĩa vụ về tài chính (thường là lệ phí trước bạ) trong quá trình thực hiện thủ tục sang tên. Thông thường, người nhận tài sản chuyển nhượng là người phải nộp lệ phí trước bạ. Tuy nhiên, luật cũng không ngăn cấm việc các bên tự thoả thuận ngược lại. Hơn nữa, tại đoạn chót của khoản 1a, điều luật đã dẫn, quy định rằng việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ.
Thế nhưng, đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, vấn đề quan trọng đặt ra là thời điểm chuyển giao quyền chứ không phải ai là người thực hiện các thủ tục. Bởi thời điểm chuyển giao quyền liên quan tới thời điểm chịu rủi ro đối với tài sản.
Hợp đồng góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân và hợp đồng mua bán đều là các hợp đồng có tác dụng chuyển quyền sở hữu một tài sản (tài sản góp vốn; tài sản bán) và xác lập quyền sở hữu đối với một tài sản khác (Phần Vốn Góp – trong hợp đồng góp vốn; tiền – trong hợp đồng mua bán). Bơỉ vậy, ta nói rằng, giống như hợp đồng mua bán, hợp đồng góp vốn vào công ty là một hợp đồng chuyển nhượng tài sản có đền bù. Một cách hợp lý, ta có thể áp dụng các quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu và chịu rủi ro đối với tài sản của hợp đồng mua bán cho trường hợp góp vốn vào công ty.
Trường hợp tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (đối với quyền sử dụng đất), thì quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản góp vốn được chuyển giao cho công ty kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản đó (Điều 432, 696 Bộ luật dân sự). Việc giao và nhận tài sản góp vốn có thể thực hiện trước hoặc sau khi hoàn tất thủ tục sang tên, tuỳ thuộc sự thoả thuận giữa các bên. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, công ty chỉ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản góp vốn (hoặc người sử dụng đất) kể từ ngày giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng được cấp.
Chuyển giao vật chất. Đối với tài sản thuộc loại không phải đăng ký quyền sở hữu, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu được thực hiện bằng cách giao tài sản (Điều 22 khoản 1b, Luật Doanh Nghiệp). Nghĩa vụ giao tài sản được coi là hoàn thành khi (i) tài sản được giao đúng tình trạng, đúng số lượng như đã thoả thuận trong hợp đồng góp vốn và (ii) tài sản ở trong tư thế hoàn toàn sẵn sàng để người nhận chiếm hữu. Việc giao và nhận phải được xác nhận bằng văn bản (cùng điều luật).
Như vậy, với quy định chuyển quyền sở hữu, tài sản đem góp vốn chính thức ra đi khỏi sản nghiệp của người góp vốn và gia nhập vào sản nghiệp của công ty nhận vốn góp. Với tư cách là chủ sở hữu, công ty có quyền khai thác công dụng và định đoạt đối với tài sản đó. Dưới con mắt của các chủ nợ của công ty, các tài sản đó có thể bị kê biên để đảm bảo cho việc thực hiện các nghĩa vụ của công ty đối với họ.
Ta đã thừa nhận rằng, tài sản không còn thuộc về sản nghiệp của người góp vốn nữa một khi mang đi góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân.
Thế nhưng, đối với tài sản góp vốn là quyền sử dụng đất, nguyên tắc này đã được các tác giả của Luật Đất đai số 13 ngày 26 tháng 11 năm 2003 (sau đây gọi là “Luật Đất Đai”) sử dụng một cách không thống nhất.
Sự mâu thuẫn của các giải pháp. Điều 4, luật đã dẫn quy định: ” Nhận chuyển quyền sử dụng đất là việc xác lập quyền sử dụng đất do được người khác chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thông qua các hình thức (…) góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới”. Như vậy, luật chính thức thừa nhận tư cách người nhận chuyển quyền sử dụng đất cho công ty có tư cách pháp nhân, người góp vốn là người chuyển quyền sử dụng đất.
Quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký. Bằng việc đăng ký, người sử dụng đất xác lập quyền và nghĩa vụ trước nhà nước và người thứ ba. Người sử dụng đất được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cùng điều luật đã dẫn).
Người nhận quyền sử dụng đất do hiệu lực của một hợp đồng góp vốn phải đăng ký quyền sử dụng đất (Điều 46, Luật Đất Đai). Công ty là người nhận quyền sử dụng đất, vì vậy, công ty phải đăng ký quyền sử dụng đất. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc công ty xác lập tư cách người sử dụng đất trước nhà nước và người thứ ba. Pháp nhân công ty được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Điều 131, khoản 1b đoạn chót, Luật Đất Đai). Tới đây, ta có cảm giác như nguyên tắc chuyển các quyền trên tài sản góp vốn, đã phân tích ở phía trên, vẫn được tôn trọng.
Thế nhưng, khi chắp bút viết về các quy định liên quan tới việc chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất và các hệ quả của việc chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thì các tác giả của Luật Đất Đai lại làm ta hết sức bối rối bởi cách xử lý hơi lạ lùng.
Quyền sử dụng đất là tài sản thuộc sản nghiệp của ai? Ta đã nói rằng, hợp đồng góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân được xếp vào nhóm các hợp đồng chuyển nhượng tài sản có đền bù. Hiệu lực của hợp đồng có tác dụng chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn (ở đây là quyền sử dụng đất) cho pháp nhân công ty nhận vốn góp. Bản thân các điều luật của Luật Đất Đai đã phân tích ở phía trên cũng không quy định ngược với nguyên tắc này. Vậy mà ngay sau đó, các tác giả Luật Đất Đai lại quyết định rằng : (i) trường hợp các bên thoả thuận chấm dứt việc góp vốn thì bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất đó trong thời hạn còn lại (Điều 131, khoản 4a, Luật Đất Đai); (b) trường hợp bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất bị phá sản thì quyền sử dụng đất đã góp vốn được xử lý theo quyết định tuyên bố phá sản của toà án nhân dân (Điều 131, khoản 4c, Luật Đất Đai); (c) trường hợp cá nhân tham gia hợp đồng góp vốn chết thì quyền sử dụng đất đã góp vốn được để thừa kế (khoản 4d, điều luật đã dẫn).
Cho phép một hoặc các bên góp vốn chấm dứt việc góp vốn (thực ra là việc chấm dứt tư cách thành viên (trong công ty TNHH), cổ đông (trong công ty cổ phần), bên góp vốn (trong doanh nghiệp liên doanh), sau đây gọi là “Thành Viên“) bằng cách trực tiếp rút lại các tài sản đã góp vốn vào công ty thực sự là một giải pháp rất không bình thường. Giải pháp này đặt các chủ nợ của công ty và bản thân công ty – một chủ thể của quan hệ pháp luật, vào tình thế hết sức bấp bênh. Cứ hình dung: một hoặc các bên thực hiện việc rút lại các tài sản đã góp vốn vào công ty. Khối tài sản có của công ty giảm sút. Điều đó đồng nghĩa với nguy cơ mất cân bằng giữa khối tài sản có và khối tài sản nợ của công ty. Mà ta đã biết rằng, khối tài sản nợ được đảm bảo bởi khối tài sản có.
Đáng ra, một khi không còn muốn xác lập tư cách của mình trong công ty nữa, người đã góp vốn lựa chọn một trong các giải pháp sau đây: (a) chuyển nhượng Phần Vốn Góp cho các thành viên khác hoặc cho người thứ ba sau khi các thành viên khác từ chối mua lại; (b) yêu cầu công ty mua lại Phần Vốn Góp (chỉ trong trường hợp Thành Viên này bỏ phiếu chống lại một nghị quyết của hội đồng công ty, giải pháp này bị kiểm soát chặt chẽ bởi đồng nghĩa với nó là việc giảm sút khối tài sản có của công ty. Phần Vốn Góp nhận về là một vật không có giá trị tài sản đối với công ty phát hành ra nó).
Người góp vốn vào công ty và công ty có tư cách pháp nhân nhận vốn góp là hai chủ thể hoàn toàn tách biệt. Mỗi chủ thể có một sản nghiệp riêng biệt. Ta đã thừa nhận rằng, quyền sử dụng đất do nhận vốn góp thuộc về sản nghiệp của công ty. Và người góp vốn tự bằng lòng với tư cách Thành Viên công ty thông qua việc xác lập quyền sở hữu Phần Vốn Góp của công ty. Tài sản góp vốn (quyền sử dụng đất) và Phần Vốn Góp là hai tài sản hoàn toàn khác nhau, thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể cũng hoàn toàn khác nhau. Ta biết rằng việc phá sản doanh nghiệp liên quan tới công việc thanh toán và tiến hành phân chia khối tài sản có và khối tài sản nợ của doanh nghiệp bị phá sản. Vậy tại sao số phận của tài sản (quyền sử dụng đất) thuộc sản nghiệp của công ty lại chịu sự phán quyết của cơ quan tư pháp trong khi tiến hành các thủ tục liên quan tới một sản nghiệp khác (sản nghiệp của bên góp vốn)? Tương tự, tại sao cá nhân tham gia góp vốn lại có quyền định đoạt (để lại thừa kế) tài sản không thuộc sản nghiệp của mình? Có vẻ như trong suy nghĩ của các tác giả Luật Đất Đai, tài sản góp vốn và Phần Vốn Góp là hai khái niệm hoàn toàn đồng nghĩa. Đi tìm lời lý giải cho các quy định nêu trên quả thực không dễ.
2. Địa vị pháp lý của chủ sở hữu Phần Vốn Góp
2.1. Quyền của chủ sở hữu Phần Vốn Góp đối với công ty
(a) Quyền phi tài chính. Các quyền này không đưa tới một lợi ích tài chính trực tiếp cho người sở hữu, nhưng lại là những quyền rất quan trọng: quyền thông tin và quyền biểu quyết.
Quyền thông tin. Với quyền này, chủ sở hữu Phần Vốn Góp dù không tham gia vào các cơ quan quyền lực trong công ty, nhưng vẫn có thể biết tình hình hoạt động của công ty: xem và nhận bản trích lục hoặc bản sao sổ đăng ký thành viên, sổ kế toán, báo cáo tài chính hàng năm, các tài liệu khác của công ty (Điều 29 khoản 1d Luật Doanh Nghiệp); đối với công ty cổ phần, tóm tắt nội dung báo cáo tài chính hàng năm phải được thông báo đến tất cả cổ đông (Điều 93 khoản 2 Luật đã dẫn). Nếu phát hiện ra những khuất tất, không minh bạch trong quá trình quản trị công ty của các thành viên trong các cơ quan quyền lực của công ty mà dẫn tới thiệt hại cho công ty hoặc lợi ích của chủ sở hữu Phần Vốn Góp, thì người này có quyền khởi kiện theo điều 29 khoản 3 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 15 tháng 6 năm 2004.
Quyền biểu quyết. Đa số các vấn đề quan trọng nhất của công ty được quyết định thông qua biểu quyết tại Hội đồng thành viên (công ty TNHH), Đại hội đồng cổ đông (công ty cổ phần), Hội đồng quản trị (Doanh nghiệp liên doanh): định đoạt những tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản ghi trong sổ kế toán của công ty, sửa đổi bổ sung điều lệ, quyết định phương hướng phát triển công ty,… Mỗi Thành Viên công ty nắm giữ số phiếu biểu quyết tương ứng tỷ lệ Phần Vốn Góp, ngoại trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết (công ty cổ phần) có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông hoặc cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại không mang tới cho chủ sở hữu quyền tham dự họp Đại hội đồng cổ đông và quyền biểu quyết.
(b) Quyền tài chính. Đây có thể coi là quyền được quan tâm trước tiên khi người ta quyết định mang tài sản đi góp vốn. Khi công ty còn đang hoạt động, quyền này cho phép chủ sở hữu Phần Vốn Góp nhận được phần lợi nhuận có thể phân chia của công ty tương ứng với giá trị Phần Vốn Góp. Khi công ty giải thể hoặc phá sản, chủ sở hữu có quyền nhận phần tài sản còn lại của công ty tương ứng với tỷ lệ giá trị Phần Vốn Góp, sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của công ty. Tuy nhiên, quyền tài chính không chỉ dừng lại ở việc nhận lợi, nếu công ty thua lỗ, chủ sở hữu Phần Vốn Góp cũng phải chấp nhận gánh vác phần lỗ đó tương ứng với tỷ lệ giá trị Phần Vốn Góp, khi công ty đang hoạt động cũng như khi công ty kết thúc hoạt động.
2.2. Trong mối quan hệ với người thứ ba
Người thứ ba quan tâm tới Phần Vốn Góp trước tiên bởi giá trị tiền tệ của chúng. Và bởi vậy, chủ sở hữu có thể tiến hành các vụ chuyển nhượng, cầm cố Phần Vốn Góp.
a, Quyền chuyển nhượng (có đền bù hoặc không có đền bù). Chủ sở hữu không bị bắt buộc phải chịu ràng buộc suốt đời với Phần Vốn Góp. Hay nói một cách khác đi, Phần Vốn Góp, với tư cách một tài sản, có giá trị tiền tệ và được tự do chuyển giao trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc tự do chuyển giao bị hạn chế bởi một số ngoại lệ: điều khoản về sự chấp thuận, điều khoản về quyền ưu tiên và điều khoản cấm chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Điều khoản về sự chấp thuận. Luật quyết định rằng, (a) trong công ty cổ phần, đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông , nếu nhận được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông (Điều 58 khoản 1 Luật Doanh Nghiệp); (b) trong công ty TNHH, chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng không có đền bù (để lại thừa kế) Phần Vốn Góp. Tuy nhiên, người nhận thừa kế chỉ có thể xác lập tư cách thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận (Điều 33 Luật Doanh Nghiệp).
Điều khoản về quyền ưu tiên. Thành viên trong công ty TNHH phải chào bán Phần Vốn Góp cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với Phần Vốn Góp của họ trong công ty. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty, nếu các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết Phần Vốn Góp đã được chào bán (Điều 32 Luật đã dẫn). Quy định tương tự cũng được áp dụng cho trường hợp chuyển nhượng Phần Vốn Góp trong doanh nghiệp liên doanh (Điều 34 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1996, được sửa đổi bổ sung năm 2000).
Điều khoản cấm chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết (Điều 55 khoản 3 Luật Doanh Nghiệp). Ngoại lệ này chỉ tồn tại trong 3 năm đầu tiên kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển thành cổ phần phổ thông và được hưởng nguyên tắc tự do chuyển nhượng trong giao lưu dân sự (Điều 52 khoản 3 Luật đã dẫn).
Lý lẽ của các ngoại lệ. Ngăn chặn sự xâm nhập của “người lạ” và duy trì sự ổn định trong thời gian đầu cho pháp nhân công ty. Công ty TNHH và Doanh nghiệp liên doanh được hình thành dựa trên cở sở sự tin tưởng và có quen biết nhau giữa các Thành Viên. Bởi vậy, sự xuất hiện của một “người lạ” sẽ rất dễ dẫn tới sự những xáo trộn trong công ty, một khi giữa họ chưa tìm được tiếng nói chung dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau – một đặc điểm riêng có của hình thức công ty TNHH (một loại hình công ty “đóng”). Đối với công ty cổ phần, sự ràng buộc các cổ đông sáng lập trong thời gian 3 năm đầu thành lập công ty sẽ có tác duy trì sự ổn định để công ty phát triển. Công ty cổ phần là loại hình công ty “mở”, với một đặc trưng rất dễ nhận biết đó là sự gia nhập và ra đi một cách liên tục, thường xuyên của các cổ đông, nhất là ở những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Cứ hình dung: khi mới thành lập, các cơ quan quyền lực trong công ty chưa thể hoàn thiện ngay lập tức, và với đặc điểm “mở”, công ty sẽ liên tục phải đối đầu với vấn đề nhân sự trong các cơ quan quyền lực của mình. Mà ta biết rằng, điều cần thiết trong khoảng thời gian khởi nghiệp là tập trung thực hiện các mục tiêu kinh doanh của công ty chứ không phải cứ loay hoay với việc thay đổi nhân sự trong các cơ quan quyền lực của công ty.
b, Quyền cầm cố. Điều 326 Luật Dân sự năm 1995 quy định:”Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm và được phép giao dịch”. Điều đó có nghĩa là, một khi vật (tài sản hữu hình hoặc vô hình) được phép giao dịch và thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm thì có thể đem cầm cố. Phần Vốn Góp là tài sản chuyển nhượng được, vì vậy, chủ sở hữu có thể đem cầm cố. Tuy nhiên, luật chưa có quy định riêng cho việc cầm cố loại tài sản này. Dựa vào điều luật 326 và các phân tích ở phần trên (a), ta thử tham khảo về cách thiết lập một vài quy tắc áp dụng cho trường hợp cầm cố Phần Vốn Góp trong công ty có tư cách pháp nhân:
- “Cổ phần phổ thông trong công ty cổ phần hưởng các quy chế cầm cố như các tài sản thông thường khác;
- Phần Vốn Góp trong công ty TNHH, trong Doanh nghiệp liên doanh, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (nắm giữ trong 3 năm đầu) có thể được cầm cố; tuy nhiên, ta chia thành 2 giả thiết sau: (i) nếu việc cầm cố có kèm theo thoả thuận về việc hứa bán hoặc hứa chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập cho người ngoài công ty trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố không được thực hiện đúng, thì việc cầm cố phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên (công ty TNHH), Hội đồng quản trị (Doanh nghiệp liên doanh), Đại hội đồng cổ đông (công ty cổ phần); (ii) nếu việc cầm cố được giao kết mà không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản, thì trong trường hợp Phần Vốn Góp được bán đấu giá để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm, các Thành Viên còn lại của công ty được quyền ưu tiên mua bằng cách thế chỗ người trúng đấu giá;
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết không thể được cầm cố”[iv].
Phần Vốn Góp là một tài sản đặc biệt, hình thành từ sự phân thân về giá trị của Tài sản đem góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân và tồn tại song song với sự tồn tại của công ty đó. Khi công ty kết thúc hoạt động, Phần Vốn Góp cũng kết thúc sứ mạng là một tài sản. Hiểu về bản chất của Phần Vốn Góp, sẽ giúp ta phân biệt một cách minh bạch hơn giữa Tài sản góp vốn với Phần Vốn Góp, và Pháp nhân công ty nhận vốn góp với Người góp vốn vào công ty. Qua đó, ta thừa nhận một cách không dè dặt tư cách tài sản cho Phần Vốn Góp, tránh khỏi tình trạng Phần Vốn Góp bị lẫn lộn với Tài sản góp vốn một cách oan uổng. Điều quan trọng hơn, sự phân biệt này giúp cho người thứ ba khi đứng trước mối quan hệ góp vốn – nhận vốn góp không còn bị bối rối với câu hỏi: của ai? tài sản nào?./.
___________________________________________
Ghi chú:
[i] Gọi là các tài sản hữu hình những vật mà con người có thể nhận biết bằng các giác quan tiếp xúc: cầm, nắm, hay chạm tay vào,…. ví dụ : bàn, ghế, xe hơi, căn nhà… Ngược lại, những tài sản mà chỉ nhận biết được thông qua các công cụ của tư duy, ví dụ tác phẩm văn chương, hội hoạ, sáng chế, quyền chủ nợ, … được gọi là các tài sản vô hình, hay các giá trị tài sản phi vật thể.
[ii] Đúng ra, vàng cũng phải được định giá tại thời điểm góp vốn bởi giá trị tiền tệ của vàng không phải lúc nào cũng ổn định ở mọi thời điểm.
[iii] Tuy nhiên, hợp đồng góp vốn vào công ty không phải là một hợp đồng mua bán bởi không làm phát sinh nghĩa vụ trả một khoản tiền ở người nhận tài sản.
[iv] Nguyễn Ngọc Điện – Bình luận khoa học về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt nam – số 167, trang 236, 237 – NXB Trẻ 2001.

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

RIÊNG TƯ LÀ THIÊNG LIÊNG

Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.

Nếu lần đầu tiên bạn đi học tại một trường đại học ở Balê, hẳn bạn sẽ có nhiều bỡ ngỡ. Cả năm trời, không ai biết điểm các bài kiểm tra của bạn cả, trừ vài giáo viên trực tiếp liên quan. Và ngược lại, bạn cũng chẳng hề biết điểm của các bạn học khác. Không có biểu dương học sinh này, hay chê bai học sinh kia sồn sồn trong lớp học.
Kì lạ hơn, một số bài tập được giao về nhà để làm trong kì nghỉ. Hết kì nghỉ, bạn nộp bài, và được chấm điểm. Mà hầu như cũng chẳng ai hỏi nhờ ai làm bài hộ cả.
Bạn đá bóng trong một công viên nhỏ, chẳng may quả bóng rơi vào vườn nhà ai cạnh đó.
Bạn bấm chuông, không ai ra cả. Bạn không bao giờ tự trèo vào vườn đó để lấy lại quả bóng.
Rồi bạn đi làm. Chẳng ai biết lương của bạn là bao nhiêu, ngoài phòng tài chính, và có thể là ông chủ của hãng nhỏ. Và bạn cũng chẳng biết lương của ai khác. Phải xem báo nghe đài thống kê, hay qua nơi tư vấn công việc, để rồi ước đoán xem lương của mình như vậy đã hợp lý với khung lương chung chưa, để mà mặc cả.
Bạn ra tòa thị chính làm giấy tờ. Tờ cảnh báo lớn treo trên tường nhắc nhở mọi người: “dù có ai mặc đồ cảnh sát đến bấm chuông nhà bạn, chớ có mở cửa”. Nếu bạn là thủ phạm nguy hiểm, người ta khắc có công lệnh và phương tiện mở cửa nhà bạn, khỏi lo hộ!
Rồi bạn lập gia đình. Thư của nửa bên kia của bạn nằm trong thùng thư, bạn không có quyền bóc xem đâu nhé. Và dĩ nhiên không ai có quyền bóc thư gửi cho bạn, ngoài chính bạn.
Riêng tư là thiêng liêng. Không có riêng tư, con người chỉ là tôi tớ của đám đông, của bạo quyền.
Sở hữu chỉ là một phần của sự riêng tư này, và do vậy sở hữu hợp pháp cũng thiêng liêng. Không có văn hóa này, người ta không hiểu giá trị làm người, và người ta ngông nghênh xúc phạm riêng tư, cuối cùng đời sống trở nên hỗn loạn.

——
Một khi cái riêng tư trở nên thiêng liêng, cá nhân công dân ra đời, và tiếp đó, cái cộng đồng, public, cũng được trở thành một riêng tư đặc thù.
Và mọi tài sản đều thành thiêng liêng, bất kể của riêng hay của công, vật chất hay tinh thần.
Nếu bạn đâm ôtô vào một cột đèn công cộng, bạn phải đền bù cho cái tài sản cột đèn đó bị hư hại. Việc đền bù văn minh hôm nay thường được thực hiện thông qua các giao dịch của các hãng bảo hiểm mà bạn tham gia, và trong trường hợp sử dụng ôtô thì bảo hiểm tối thiểu là bắt buộc. Và cái thùng rác công cộng cũng vậy, là thiêng liêng, ai táy máy chúng sẽ phải bị trả giá đắt.
Và bạn sẽ thấy, mọi lĩnh vực đều trở thành thiêng liêng, vì nó có chủ quyền của nó.
Cái nền tảng riêng tư thiêng liêng này đưa đến sự tôn trọng lẫn nhau bắt buộc giữa các cá nhân cùng các tổ chức xã hội. Sự tôn trọng này đơn giản là được luật pháp bảo đảm, và trên đó nữa, đã thành ra lẽ sống của các thành viên của xã hội văn minh.
—-
Sự riêng tư là thiêng liêng, chính vì vậy nó không được làm thua thiệt sự riêng tư của các cá nhân khác, cùng của cộng đồng.
Trên cái nền tảng riêng tư thiêng liêng này, người ta phải xây dựng nên tòa lâu đài thiết chế để gìn giữ bảo hành và phát triển được chính sự thiêng liêng đó, đó là công việc điều hòa các lợi ích của các cá nhân và của toàn bộ cộng đồng, về vật chất và về tinh thần.
Cái đó gọi là nhà nước.
Nhà nước là một thiết chế được thiết kế và được duy hành để các công dân thực hiện được đời sống thiêng liêng của mình. Vì lẽ đời sống luôn vận động phát triển, nhà nước cũng phải được tiến hóa theo cùng. Nhà nước được dựng nên một cách có ý thức thì không phải là một thứ từ trên trời rơi xuống. Nó là một công cụ được bồi đắp nên của chính các cá nhân thành viên cộng đồng.
Công cụ nhà nước làm được những công việc mà mỗi cá nhân loay hoay không xong được.
Xây dựng một tháp nước sạch cho một cụm làng dân cư, cái đó vì sự riêng tư của mỗi cá nhân, và vượt lên trên sự loay hoay của mỗi cá nhân. Các công trình của cộng đồng, quốc gia có ý nghĩa tương tự như thế, trong cơ man các lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần.
Chưa hết.
Một nhà máy điện nguyên tử gặp nạn có thể làm cho cư dân nhiều quốc gia cùng lâm nguy.
Một dòng sông có thể là nguồn sống của nhiều đất nước.
Một hành lang bay buộc phải đi qua vùng trời nhiều lãnh thổ, sử dụng nhiều dịch vụ quốc tế.
Một đường hàng hải phải xuyên qua các vùng biển thế giới.
Một bác sĩ đã có thể phải phẫu thuật trực tiếp cho một bệnh nhân… ở nửa bên kia trái đất, thông qua hệ thống máy móc kết nối với đường truyền viễn thông dành riêng an toàn
… Và như thế hôm nay con người đã phải sẵn sàng chung tay bắt đầu cho những công việc nền tảng của một nhà nước thế giới đang thầm lặng thai nghén.
Tất cả phải đóng trụ trên một nền tảng: riêng tư là thiêng liêng

QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

THS. LÃ KHÁNH TÙNG – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội
1. Khái quát về quyền được xét xử công bằng
1.1. Khái niệm “quyền được xét xử công bằng”
“Quyền được xét xử công bằng” (right to a fair trial) là một nhân quyền cơ bản và có tính phổ quát cao, tồn tại trong cả các vụ án hình sự và phi hình sự. Pháp luật nhiều quốc gia quy định quyền này với quan niệm rằng nó là quyền thiết yếu (essential) trong mọi quốc gia pháp trị. Việc đối xử với một người khi họ bị buộc tội phản ánh rõ nhà nước tôn trọng nhân quyền đến mức nào, bởi vậy, quyền được xét xử công bằng đã được coi là một hòn đá tảng (acornerstone) của các xã hội dân chủ. Giống như đặc tính của mọi nhân quyền là phụ thuộc lẫn nhau, quyền được xét xử công bằng với các quyền khác có mối quan hệ hai chiều. Một phiên toà công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con người như quyền sống, quyền được an toàn về thân thể, tự do ngôn luận… Ngược lại, trong một xã hội không dân chủ, các quyền cơ bản của con người không được tôn trọng thì khó có thể có chuyện mọi người đều được xét xử công bằng. Quan hệ chặt chẽ giữa quyền được xét xử công bằng với pháp trị và dân chủ cũng đã được khẳng định chính thức trong Tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử công bằng tại châu Phi.
Phạm vi của quyền được xét xử công bằng được hiểu tương đối khác nhau trong lập pháp và trong nhiều tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng. Nếu dịch sát nghĩa “right to a fair trial” được hiểu là quyền đối với (quyền có một) phiên xử công bằng. Tức là không phải bị xét xử bởi một phiên toà không công bằng (unfair trial), dù là hình sự hay phi hình sự. Về mặt lập pháp, ngoài hệ thống pháp luật của các quốc gia, quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966. Tuy nhiên, theo nhiều quan điểm thì quyền được xét xử công bằng không chỉ gồm các quy định liên quan đến giai đoạn xét xử, được quy định tại Điều 14 mà cả ở nhiều điều luật khác (Điều 7, 9, 15…) của ICCPR. Về thời điểm phát sinh, nhiều luật gia cho rằng ngay từ khi một cá nhân bị bắt họ đã có quyền này. Bởi lẽ các quyền trước, trong và sau khi xét xử đều có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, trong bài viết này, tác giả chủ yếu tập trung vào giai đoạn xét xử của Toà án, đây cũng là phạm vi mà các quy định của pháp luật quốc tế tập trung điều chỉnh và được đề cập rộng rãi khi tìm hiểu về quyền này.
Từ những phân tích trên, có thể nêu khái niệm khoa học pháp lý về quyền được xét xử công bằng như sau: Quyền được xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trong vụ án hình sự và của các bên trong vụ việc phi hình sự trước cơ quan tư pháp (Công an, Viện kiểm sát và Toà án), được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều quyền cụ thể (như được bảo đảm quyền bào chữa, được xét xử nhanh chóng, công khai bởi Toà án độc lập, không thiên vị…) nhằm bảo đảm cho việc xét xử được công bằng, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân.

1.2. Quy định trong các văn kiện mang tính ràng buộc và không mang tính ràng buộc pháp lý
Quyền được xét xử công bằng, như đã đề cập, được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), mà Việt Nam đã gia nhập từ năm 1982, là văn kiện quốc tế có giá trị cao trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Trong Công ước này, quyền được xét xử công bằng được ghi nhận một cách trang trọng tại Điều 14 và một số điều luật khác. Mặc dù Điều 14 không gọi trực tiếp bằng tên “quyền được xét xử công bằng” nhưng quyền này đã được Uỷ ban Nhân quyền (Human rights Committee), cơ quan được thiết lập nhằm giám sát việc thi hành ICCPR, sử dụng khi phân tích các nội dung của điều luật. Đồng thời, nội hàm của Điều 14 cũng trùng với các quy định về “quyền được xét xử công bằng” trong nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948) (Tuyên ngôn) cũng đã bảo vệ quyền này khi khẳng định tại Điều 10 rằng mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng hoàn toàn trong việc xem xét công khai và công bằng bởi một Toà án “có năng lực, độc lập và không thiên vị”.
Đối chiếu với quy định về quyền này trong ICCPR với Công ước về nhân quyền của một số khu vực (châu Âu, châu Mỹ, châu Phi) cũng thấy rất nhiều điểm tương đồng. Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và tự do căn bản (ECHR) năm 1950 tại Điều 6, cũng như Công ước châu Mỹ về nhân quyền (1969) tại Điều 8, đều quy định với tiêu đề “quyền được xét xử công bằng” (Right to a fair trial), khẳng định quyền được xét xử bởi “Toà án độc lập và không thiên vị, được thiết lập theo luật pháp” trong các vụ việc dân sự hay hình sự, quyền được suy đoán vô tội và các quyền tối thiểu liên quan đến việc bị buộc tội. Tại các điều ước của một số khu vực khác, có thể không gọi trực tiếp tên quyền này, như Điều 7 của Hiến chương châu Phi về nhân quyền và quyền của các dân tộc, nhưng cũng quy định về một số quyền như được kháng cáo, được suy đoán vô tội, được bào chữa, được xét xử bởi “một Toà án không thiên vị”. Cũng cần lưu ý là châu Phi đã có riêng một văn kiện về quyền được xét xử công bằng là Tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử công bằng tại châu Phi (2000), như đã nhắc đến ở trên. Hiến chương nhân quyền ả-rập (1994), dù không có điều nào đề cập trực tiếp đến Toà án, nhưng cũng có quy định về quyền được suy đoán vô tội (Điều 7), quyền không bị xét xử hai lần, được bồi thường nếu bị giam giữ oan (Điều 16). Các điều ước khu vực hiển nhiên chỉ có giá trị bắt buộc đối với các quốc gia tham gia điều ước, nhưng rõ ràng quyền được xét xử công bằng mang tính phổ quát cao và được quan tâm bảo vệ trên khắp thế giới.
Bên cạnh các văn kiện mang tính ràng buộc pháp lý (công ước, điều ước), nhiều văn kiện không mang tính ràng buộc pháp lý như Hướng dẫn, Nguyên tắc, Quy tắc có liên quan đến bảo vệ quyền được xét xử công bằng. Chẳng hạn như liên quan đến người tiến hành tố tụng và các nghĩa vụ của họ có Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của Toà án (1985), Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật (1979), Hướng dẫn về vai trò của Công tố viên (1990)… Liên quan đến người tham gia tố tụng có Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào (1988), Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) (1985), Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990), Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của Luật sư (1990)… Những văn kiện này dù không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý, nhưng lại là những tiêu chuẩn chung đã được cộng đồng quốc tế nhất trí nhằm hướng đến bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm của con người – những giá trị mang tính phổ quát. Bên cạnh giá trị đạo đức và chính trị, các văn kiện này đã và đang được nghiên cứu và nội luật hoá bởi nhiều quốc gia.
Tập hợp các văn kiện văn kiện mang tính ràng buộc và không mang tính ràng buộc pháp lý nêu trên tạo nên một hệ thống các chuẩn mực quốc tế về quyền được xét xử công bằng. Hệ thống chuẩn mực này có thể dùng làm thước đo mức độ tuân thủ của các quốc gia trên khía cạnh pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật.
2. Các nội dung căn bản của quyền được xét xử công bằng
2.1. Một số quyền trong giai đoạn trước xét xử
Mặc dù quyền được xét xử công bằng liên quan nhiều nhất đến hoạt động xét xử của Toà án, nhưng giai đoạn tiền xét xử lại có quan hệ chặt chẽ, làm tiền đề cho giai đoạn xét xử. Các quyền cơ bản nếu bị xâm hại từ giai đoạn đầu này sẽ ảnh hưởng đến các quyền ở giai đoạn sau. Chẳng hạn quyền không bị tra tấn, bức cung hay nhục hình nếu bị xâm hại, rất dễ dẫn đến những lời khai không khách quan, từ đó nội dung vụ án bị sai lệch. Mặt khác, Toà án trong giai đoạn này đã có vai trò xem xét về tính hợp pháp của việc bắt giữ người.
Không bị bắt hoặc giam giữ vô cớ là một quyền sơ đẳng, bảo đảm quyền tự do và an toàn về thân thể của cá nhân. Điều 9 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, cũng như Điều 9/1 ICCPR khẳng định không ai có thể bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Khi bị bắt, người bị bắt có quyền được biết lý do bắt (Điều 9/2). Cũng ngay từ giai đoạn bị bắt, người bị bắt có quyền không bị tra tấn, bị đối xử tàn ác hay vô nhân đạo, đây là quyền được ghi nhận trong Điều 7 Tuyên ngôn, Điều 7 ICCPR, Bình luận chung số 7 và số 20, cũng như trong Công ước chống tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục (1984). Hơn thế nữa, bị can còn có quyền được giam giữ, đối xử nhân đạo, theo Điều 10 ICCPR, Bình luận chung số 9, cũng như trong Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào (1988). Điều 9/4 ICCPR quy định về quyền được Toà án nhanh chóng xem xét về tính hợp pháp của việc bắt giữ người. Toà án với vai trò là cơ quan tư pháp sẽ đánh giá việc bắt giữ có hợp pháp hay không, tránh việc bắt giữ người bất hợp pháp hoặc không cần thiết. Đây cũng là một quyền cơ bản của công dân, được hiến pháp nhiều quốc gia ghi nhận.
Khi đề cập đến các quyền trong giai đoạn tiền xét xử, nhiều quyền khác của bị can được quan tâm như quyền được bào chữa và trợ giúp pháp lý ngay khi bị bắt hoặc bị giam giữ, quyền được liên lạc với thế giới bên ngoài, quyền được thực hành tôn giáo…
2.2. Quyền bình đẳng trước Toà án và được xét xử bởi Toà án độc lập, không thiên vị, công khai
Trước hết, bình đẳng thể hiện ở sự ngang bằng về quyền giữa các bên trong tố tụng. Các bên buộc tội với bên gỡ tội có quyền như nhau trong việc đưa ra chứng cứ, quan điểm, yêu cầu là những đòi hỏi đầu tiên của công bằng trong xét xử. Đây cũng là yêu cầu của Điều 7 Tuyên ngôn rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng.
Thứ hai, Toà án cần phải độc lập, không thiên vị cũng là nội dung quan trọng đảm bảo công bằng. Toà án là cơ quan có thẩm quyền đưa ra phán quyết về việc một người có tội hay không và trách nhiệm hình sự mà người đó phải gánh chịu. Tại Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của Toà án (Basic Principles on the Independence of the Judiciary) do Hội nghị Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội thông qua và được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận cùng trong năm 1985, tính độc lập của Toà án đã được cụ thể hoá từ nhiều góc độ như cần có sự bảo đảm của nhà nước, bảo đảm của hiến pháp, Toà án không bị ảnh hưởng bởi dụ dỗ, sức ép, can thiệp sai trái… Bên cạnh sự độc lập của Toà án và các Thẩm phán, sự độc lập của Cảnh sát và công tố viên cũng ảnh hưởng đáng kể đến tính độc lập của hệ thống tư pháp. Hướng dẫn về vai trò của Công tố viên (được Hội nghị Liên hợp quốc thông qua năm 1990) đã khẳng định trách nhiệm của nhà nước trong bảo đảm cho Công tố viên thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn mà không bị đe doạ, ngăn cản, can thiệp (khoản 4) và Văn phòng Công tố viên phải triệt để tách khỏi chức năng xét xử (khoản 10)… Trong Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1979), một số khía cạnh liên quan đến tính độc lập như các quan chức thi hành pháp luật (thực thi quyền lực cảnh sát) không được tham nhũng (Điều 7).
Công khai và minh bạch là những đòi hỏi thiết yếu của công bằng. Toà án xét xử công khai là một yêu cầu trong Điều 14/1 ICCPR. Tuy nhiên, việc xét xử công khai có thể bị hạn chế vì lý do an ninh quốc gia hoặc để giữ kín đời tư của các bên. Trong Công ước châu Âu về nhân quyền (ECHR), tính công khai của việc xét xử (Điều 6) cũng như việc đảm bảo quyền thông tin của công chúng được đề cao (Điều 10). Gần đây, Hội đồng châu Âu nêu lên kiến nghị liên quan đến tính minh bạch và khuyến cáo các quốc gia bảo đảm quyền của công chúng trong việc nhận các thông tin về hoạt động của cơ quan tư pháp, công an thông qua các phương tiện truyền thông, đồng thời, các phóng viên phải được tự do viết, bình luận về hệ thống tư pháp. Năm 2005, Hội đồng tư vấn Thẩm phán châu Âu (the Consultative Council of European Judges) cũng đã đề cao mối quan hệ giữa Toà án với các phương tiện truyền thông đại chúng.
2.3. Quyền được suy đoán vô tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội được hình thành tương đối sớm trong nhiều nền tư pháp trên thế giới. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) đã khẳng định mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội (Điều 9). Trong Hiến pháp Mỹ, dù không trực tiếp đề cập đến nhưng có thể được suy ra từ các tu chính án 4, 5 và 14. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948) tại Điều 11 và ECHR tại khoản 2 Điều 6 cũng khẳng định quyền này.
Điều 14/2 ICCPR đã ghi nhận quyền được suy đoán vô tội của bị can, bị cáo, cạnh đó, khoản 7 của Bình luận chung số 13 nhấn mạnh mối quan hệ của quyền này với nghĩa vụ chứng minh của bên công tố, bên công tố có nghĩa vụ chứng minh trong suốt quá trình xét xử. Quy định về suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với quy định về Toà án không thiên vị. Các cơ quan tiến hành tố tụng, các Thẩm phán, Công tố viên có nghĩa vụ không được có định kiến trước về kết quả của việc xét xử. Cụ thể, việc tiến hành phiên toà phải được dựa trên việc giả định/suy đoán là vô tội. Liên quan đến suy đoán vô tội, các yếu tố có thể tạo nên định kiến cũng cần phải tránh như việc yêu cầu bị can, bị cáo đeo còng tay, mặc đồng phục trại giam hoặc buộc phải cạo trọc đầu.
2.4. Quyền bào chữa
Quyền bào chữa có vai trò đặc biệt là quyền bảo vệ các quyền khác. Điều 14/3 ICCPR khẳng định trong quá trình xét xử hình sự, mọi người phải được các bảo đảm tối thiểu liên quan đến quyền bào chữa. Các quyền đó bao gồm quyền được biết lý do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xử nhanh chóng, được đối chất với người làm chứng…
Trước hết, để có thể thực hiện việc bào chữa, người bị buộc tội phải được thông báo về lý do buộc tội (Điều 14/3/a). Nguyên tắc 10 trong Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù dưới bất kỳ hình thức nào (1988) cũng nhấn mạnh quyền được thông báo này của người bị bắt giữ. Bên cạnh quyền có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc bào chữa (Điều 14/3/b), bị cáo lại có quyền được xét xử nhanh chóng (Điều 14/3/c).
Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ Luật sư. Điều 14/3/d ghi nhận cả hai quyền này của bị cáo. Nhiều quốc gia trên thế giới, Luật sư có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Nguyên tắc 10 trong Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù dưới bất kỳ hình thức nào cũng khẳng định quyền của bị can, bị cáo được liên lạc, tham khảo ý kiến với Luật sư, việc tiếp xúc với Luật sư phải ngoài tầm nghe của quan chức thi hành pháp luật. Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của Luật sư (1990) cũng đặc biệt chú ý đến vai trò của Luật sư trong tư pháp hình sự. Theo đó, các Chính phủ có nghĩa vụ bảo đảm cho người bị bắt, trong mọi trường hợp không quá 48 giờ, được tiếp xúc với Luật sư. Bên cạnh quyền nhờ Luật sư, cá nhân còn có quyền được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu và nói được ngôn ngữ sử dụng tại phiên toà (Điều 14/3/f).
Để đảm bảo quyền bào chữa còn có các quy định liên quan đến chứng minh, người làm chứng. Cá nhân có quyền thẩm vấn và yêu cầu thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình, được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên toà (Điều 14/3/e). Về nghĩa vụ chứng minh, bị can, bị cáo không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội (Điều 14/3/g) và nghĩa vụ chứng minh trong vụ án hình sự thuộc về phía công tố.
2.5. Quyền được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên
Do đặc điểm của người chưa thành niên có nhiều hạn chế về thể chất, tâm sinh lý, cộng đồng quốc tế đã giành nhiều quan tâm để bảo vệ người chưa thành niên về mặt pháp lý. Điều 14/4 ICCPR quy định thủ tục áp dụng đối với người chưa thành niên phải xem xét đến độ tuổi và khuyến khích sự phục hồi của trẻ. Công ước về quyền trẻ em (1989) tại Điều 40/2/b cũng đã khẳng định các quyền của trẻ em được các đảm bảo khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) (1985) đã dành rất nhiều ưu đãi đặc biệt cho người chưa thành niên. Ngoài ra Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990), bên cạnh việc quy định rất nhiều bảo đảm đối với người chưa thành niên, cũng nhấn mạnh quyền có Luật sư bào chữa và được yêu cầu trợ giúp pháp lý không phải trả tiền trong giai đoạn chờ xét xử của họ (khoản 18, Phần III)(*).
2.6. Quyền kháng cáo
Điều 14/5 ICCPR quy định quyền kháng cáo, quyền được xét xử phúc thẩm. Người nào bị kết án đều có quyền yêu cầu Toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với họ mà Toà án cấp dưới đã tuyên. Quyền này nhằm hạn chế những sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới có thể gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của các đương sự. Trong khoản 7 của Bình luận chung số 13 về quyền kháng cáo đã nhấn mạnh rằng, trong các vụ án hình sự, quyền này không chỉ áp dụng đối với những tội phạm nghiêm trọng mà còn được áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm.
2.7. Một số quyền khác
Điều 14/6 ICCPR quy định quyền được yêu cầu bồi thường khi bị kết án oan. Điều luật quy định cụ thể nếu bản án có hiệu lực chung thẩm bị huỷ bỏ hoặc tuyên vô tội trên cơ sở tình tiết mới cho thấy việc xét xử là oan, người bị kết án oan có quyền yêu cầu bồi thường. Điều 14/7 ICCPR còn quy định quyền không bị xét xử hay phải chịu hình phạt hai lần về cùng một tội danh.
Trong ICCPR, ngoài các nội dung quy định tại Điều 14 nêu trên, các nội dung quy định trong Điều 11 về không bị truy cứu hình sự vì lý do không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng và Điều 15 về không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu thành tội phạm theo pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi, không áp dụng hồi tố cũng được nghiên cứu khi đề cập đến quyền được xét xử công bằng.
3. Kết luận
Quyền được xét xử công bằng là một quyền tổng hợp. Các quy phạm quốc tế về quyền này rất đa dạng, đồng thời cũng tương đối chặt chẽ, chi tiết. Việc tôn trọng, thực hiện tốt các quy phạm đó có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ được quyền được xét xử công bằng, qua đó bảo vệ các quyền cơ bản khác, cũng như góp phần quan trọng tạo nền tảng cho một xã hội dân chủ./.
_______________________
(*) Quyền con người trong quản lý tư pháp, Vũ Ngọc Bình (Tuyển chọn), Nxb Chính trị quốc gia, năm 2000.

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Rủi ro pháp lý: DN cần chủ động phòng bị

(DĐDN) Mỗi khi vượt qua sóng gió, sức khỏe DN mới được bộc lộ một cách rõ ràng và thực chất hơn. Có thể bóc tách thành nhiều dạng sức khỏe DN như: sức khỏe về mặt tài chính, pháp lý… Trao đổi với DĐDN, LS Trần Hữu Huỳnh – Phó tổng thư ký, kiêm Trưởng ban Pháp chế VCCI khẳng định: sức khỏe về mặt pháp lý là một trong những điều kiện tiên quyết giúp DN phát triển bền vững.

- Kinh tế thế giới đang gặp rất nhiều khó khăn. DN sẽ phải đối mặt với những dạng rủi ro pháp lý nào, thưa ông ?
Khi thị trường biến động, hoạt động kinh doanh trở nên không bình thường, chắc chắn dẫn đến những bất ổn trong giao dịch kinh tế. Rất nhiều giao dịch sẽ có nguy cơ cao xảy ra tranh chấp, kiện tụng. Với nhiều cấp độ khác nhau, việc tranh chấp trong các giao dịch kinh tế có thể khiến các bên thiệt hại về mặt thời gian, tài chính, hoặc đổ vỡ hoàn toàn giao dịch.
Thông thường, tranh chấp là do DN không dự liệu được đầy đủ các tình huống, không lường trước được các khó khăn để đưa vào trong các điều khoản của hợp đồng. Đến khi phát sinh tranh chấp, DN cũng khó có thể lường trước những rủi ro mà mình gặp phải. Có rất nhiều dạng rủi ro như: nghĩa vụ tài chính phát sinh, người lao động có nguy cơ mất việc, trách nhiệm của cơ quan quản lý DN trước các cổ đông...
Bên cạnh đó, những nguồn cung nguyên liệu đầu vào, nguồn cung vốn cũng chứa đựng rất nhiều nguy cơ bất ổn từ sự suy giảm của nền kinh tế thế giới. Do khó khăn của nền kinh tế trong nước, các quốc gia cũng tăng cường chủ nghĩa bảo hộ hàng hóa, dịch vụ trong nước bằng nhiều chính sách và hàng rào kỹ thuật. Điều này dẫn đến việc cắt giảm, thu hẹp thị trường hàng hóa xuất khẩu. Nguy cơ của các vụ tranh chấp thị trường, ngành hàng và hợp đồng đơn lẻ đều có thể xảy ra. Cùng với đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết 11, trong đó cắt giảm đầu tư công cũng đang khiến nhiều DN, đặc biệt DN lĩnh vực xây dựng hạ tầng gặp rất nhiều khó khăn. Không ít các hợp đồng giữa nhà thầu chính, nhà thầu phụ hay chủ đầu tư bị ách tắc hoặc có độ rủi ro cao.
- Để phòng chống các rủi ro về mặt pháp lý, DN nên làm gì, thưa ông?
Kinh nghiệm đối mặt với các rủi ro pháp lý của DN VN chưa nhiều. Tuy nhiên, đợt khủng hoảng và suy giảm kinh tế toàn cầu lần này, DN đã nhìn ra và bắt đầu thích ứng từ khá sớm. Thông qua, những điều tra về chỉ số niềm tin của DN do VCCI tiến hành mấy năm trở lại đây có thể thấy, khá nhiều DN đã có những đánh giá và phòng bị trước các bất ổn của nền kinh tế thế giới.
Theo đánh giá chung, nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục gặp nhiều bất ổn, thị trường xuất khẩu chủ yếu sẽ còn nhiều khó khăn, trong thời gian tới. Chính vì vậy, các DN phải có những chiến lược hành động để thích ứng. Cùng với việc xem xét và dự liệu một cách đầy đủ các điều kiện hợp đồng, DN lưu ý khi giao kết hợp đồng kinh tế cần có “điều khoản khó khăn”. Đây là một điều khoản đã được quốc tế hóa từ khá lâu. Theo đó, khi thị trường bị biến động cơ bản, hai bền có quyền ngồi lại để thương lượng thay đổi một số điều khoản trong hợp đồng.
Một động thái khác cũng rất quan trọng đó là DN cần cơ cấu lại chính mình. DN phải xác định đâu là thế mạnh của mình, thị trường mạnh là gì, sản phẩm nào mình có thể chiếm ưu thế... Cùng với đó, các DN cần thiết kế lại mô hình tổ chức sao cho thật hiệu quả, giảm chi phí, phải hướng tới quay nhanh vòng vốn ở mức cao nhất có thể. DN cũng phải theo dõi sát sao các chính sách. Qua đó, DN có thể trực tiếp hoặc thông qua các hiệp hội đóng góp, xây dựng và kiến nghị điều chỉnh ngay từ khi chính sách bắt đầu hình thành.
- Tranh chấp là điều chẳng ai muốn. Tuy nhiên, đôi khi DN không thể né tránh được. Theo ông, DN cần phải làm gì đứng trước các vụ tranh chấp thương mại ?
Khi xảy ra tranh chấp, cách tốt nhất là các bên cùng ngồi lại với nhau. DN cần có văn hóa đồng cảm trong kinh doanh. Các bên nên cùng nhau chia sẻ. Với một thái độ thận thiện, việc giải quyết sẽ trở nên suôn sẻ và hiệu quả hơn cho cả hai bên. Vì khi đã phải kiện tụng, đã phải ra tòa thì chắc cả hai bên đều phải chịu thiệt, dù ít hay nhiều. Nếu buộc phải giải quyết bằng kiện tụng, tôi cho rằng, DN nên lựa chọn hình thức trọng tài kinh tế. Đây là hình thức giải quyết nhanh chóng, đơn giản và đỡ tốn kém hơn cho DN.
Với những vụ kiện tranh chấp mang tính quốc tế, DN nên chú ý tới những yếu tố minh bạch và rõ ràng của hồ sơ, số liệu, chứng cứ. Trong giải quyết tranh chấp quốc tế, đây là những yêu cầu cần đặc biệt lưu tâm. Ngoài ra, các DN cần phải tranh thủ vai trò của các hiệp hội DN đối tác ở nước ngoài để cùng nhau hỗ trợ bảo vệ lợi ích chung cho cả hai bên. Rồi đến vai trò của các cơ quan đại diện thương mại, đại sứ, và cả các cơ quan quản lý cạnh tranh trong nước, tổ chức đại diện cho DN... đều rất quan trọng.
- Nói đến giải quyết tranh chấp quốc tế, không thể không nói tới vai trò của hiệp hội DN, thưa ông ?
Trước tiên, hiệp hội DN cần là cơ quan phòng ngừa các tranh chấp. Hiệp hội cần hướng dẫn hội viên mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, đồng thời điều tiết giá cả. Đây là những công việc không đơn giản là việc mua gì bán gì mà còn là mua bán ra làm sao cho hiệu quả và tránh được những tranh chấp có thể xảy ra. Hiệp hội cũng nên tranh thủ các chuyên gia, luât sư quốc tế từ việc tư vấn về tranh chấp đến chia sẻ kinh nghiệm trong giải quyết...
Khi có vấn đề xảy ra tranh chấp hoặc bảo vệ quyền lợi hội viên, hiệp hội phải là những chỗ dựa tin tưởng và làm việc hết mình vì hội viên. Qua đó, các hội viên mới tin tưởng đóng góp các nguồn lực, đóng góp tài chính để hiệp hội đủ sức mạnh vươn ra va trạm với quốc tế. Hiệp hội cũng cần tham gia đóng góp, xây dựng chính sách quản lý một cách mạnh mẽ hơn nữa, vừa giúp giảm thiểu các tranh chấp vừa tạo điều kiện thông thoáng trong hoạt động của DN. Tranh thủ sự phối hợp, hỗ trợ của các tổ chức trong nước như các cơ quan thuộc Bộ Công Thương, hiệp hội DN trong và ngoài nước và VCCI là một trong những điều tạo nên sức mạnh của hiệp hội.
- Với vai trò là cơ quan đại diện cho cộng đồng DN, doanh nhân cũng như các hiệp hội DN ngành nghề, VCCI nên ưu tiên những hoạt động nào để hỗ trợ các DN, thưa ông ?
Thời gian vừa qua, VCCI đã có rất nhiều hoạt động để hỗ trợ DN về mọi mặt trong đó có pháp lý. Một trong những nhiệm vụ được VCCI ưu tiên là xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho DN. Ba nội dung cơ bản được VCCI tập trung đóng góp xây dựng là minh bạch trong điều hành, tự do trong kinh doanh và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng.
Thông qua nhiều hình thức khác nhau như: Tổ chức tham gia đóng góp xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật, rà soát và kiến nghịa sửa đổi hệ thống pháp luật... những hoạt động trên đang nhận được sử ủng hộ nhiệt tình từ cộng đồng DN. Bên cạnh đó, VCCI cũng là cầu nối để DN và các cơ quan quản lý cùng ngồi lại tháo gỡ khó khăn một cách nhanh chóng và hiệu quả cho DN. Nhìn chung, sức khỏe DN về mặt pháp lý luôn là một nội dung được VCCI ưu tiên hỗ trợ, chăm sóc.
- Xin cảm ơn ông !

Giày da VN nguy cơ bị kiện tại Brazil
Bộ Công Thương cho biết, Cục Bảo vệ Thương mại thuộc Bộ Phát triển Công nghiệp và Ngoại thương Brazil (DECOM) đã gửi thông báo việc quốc gia này tiến hành điều tra thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng giày dép của VN. Phía Brazil cho rằng sản phẩm giày dép của VN đã sử dụng các nguyên phụ liệu có xuất xứ tại Trung Quốc để XK sản phẩm sang nước này. Bộ Công Thương đang phối hợp với Đại sứ quán VN tại Brazil triển khai các công việc nhằm bảo vệ quyền lợi DN XK bị đơn trong quá trình điều tra nêu trên. Do vậy, cơ quan này đề nghị TCHQ cung cấp một số mặt hàng giày dép có các mã hàng hóa HS6402, 6403, 6404, 6405 đang nằm trong diện có nguy cơ bị kiện. Cụ thể TCHQ cần cung cấp số lượng và giá trị XK các mặt hàng nêu trên của VN XK sang thị trường Brazil của từng DN trong giai đoạn từ 1/6/2010 đến 30/6/2011. Trong danh sách các DN XK mặt hàng giày dép sang Brazil cần nêu rõ tên, địa chỉ, số điện thoại liên lạc. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương sẽ lên phương án xử lý. Hiện, thuế NK của Brazil đối với các mặt hàng giày dép từ VN là 18%.

Bá Tú thực hiện

PHÁP LUẬT KHÔNG DÀNH CHO RIÊNG AI

Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật là một khẩu hiệu xuất hiện từ rất sớm ở nhiều nơi trong các trường học, cơ quan nhà nước và công sở. Đó là một khẩu hiệu nói lên một sự hiển nhiên của các công dân sống trên một quốc gia. Tuy nhiên làm thế nào để một công dân biết hiến pháp và hiểu pháp luật, để sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật thì cho đến nay tôi vẫn chưa thấy có chương trình nào nói về đề tài này một cách nghiêm túc.
Trăn trở với những suy nghĩ của mình về trách nhiệm của người công dân nước Việt, tại đại hội chi đoàn GIẢI PHÁP ngày 9 tháng 10 vừa qua, tôi đã đưa ra ý kiến rằng: Đoàn thanh niên nên đưa thêm vào chương trình hành động của mình một công việc mới là “Phát động phong trào tìm hiểu hiến pháp và pháp luật Việt Nam cho toàn thể đoàn viên – thanh niên HueCIT”.
Có lẽ trong tất cả chúng ta, ai cũng được nhìn thấy khẩu hiệu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường và những lúc đến các cơ quan nhà nước. Nhưng liệu có bao nhiêu người trong chúng ta biết hiến pháp và hiểu pháp luật Việt Nam? Trong khi nó thật sự rất cần thiết cho đời sống của mỗi người chúng ta. Bởi vì luật là những quy định chung của một quốc gia về một lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Luật quy định những quy tắc ứng xử, những điều mà nhà nước cho phép hoặc không cho phép con người, tổ chức hành xử trong lĩnh vực mà luật đó đề cập đến. Hiến pháp là luật gốc, mọi luật phải tuân thủ hiến pháp và không được trái với những quy định trong hiến pháp. Mục đích cao cả của hiến pháp và pháp luật là giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội, tạo điều kiện cho mọi công dân có cơ hội phát triển bản thân và cống hiến cho sự phát triển của quốc gia. Hiến pháp Việt Nam mới nhất được ban hành vào năm 2001, đã sửa đổi bổ sung hiến pháp năm 1992. Luật phổ biến, gần gủi và cần thiết nhất đối với người dân là Luật Dân sự, Luật Hình sự và Luật Hôn nhân và Gia đình. Đối với người làm công nghệ thông tin (CNTT) chúng ta cần tuân thủ Luật CNTT năm 2006 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2007.
Luật hoàn toàn không phải là “món hàng xa xỉ phẩm” mà chỉ có các luật sư hoặc những người làm công tác tư pháp mới “xài” nó. Luật Việt Nam là dành cho tất cả công dân của Việt Nam và cả người nước ngoài sống trên lãnh thổ Việt Nam. Luật dành cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ dành riêng cho các luật sư. Luật càng không phải chỉ dành cho những tên tội phạm hoặc những kẻ luồn lách và sống trên cả pháp luật. Vậy tại sao lại có quá ít người hiểu biết về luật? Chúng ta là tầng lớp trí thức của Việt Nam không thể không tìm hiểu kỹ về hiến pháp Việt Nam, không thể không biết rõ về luật của nhà nước mình. Có hiểu rõ hiến pháp, nắm chắc pháp luật thì mới có thể sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật để làm đúng trách nhiệm của một công dân. Và có hiểu rõ về nó mới biết sự phù hợp của nó như thế nào để góp ý, cải tiến góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đưa đất nước bước vào hội nhập và phát triển cùng thế giới.
Tôi thật sự cảm thấy tiếc vì không ai chỉ cho mình biết về điều đó; Hiến pháp là gì? Ai là người sinh ra nó? Pháp luật là như thế nào và dùng để làm gì? Thật sự ở trường đã không hề dạy cho chúng ta biết gì về hiến pháp và càng không hề nói đến một luật nào. Có chăng chỉ là những “câu thần chú” lúc linh nghiệm lúc không, đại loại như “đi bên phải lẽ phải về ta”, “đèn đỏ đứng lại, đèn xanh nhanh lên, đèn vàng chậm lại”… Hoá ra tôi đã sống một cách mù tịt trước những đúng sai, phải trái mà pháp luật đã quy định gần ba mươi năm như bao người "dân đen" khác? Không! Tôi không phải là một người nông dân nghèo khó không được học hành. Tôi là một cử nhân, một cử nhân khoa học. Nhưng tại sao suốt hơn mười lăm năm trong các trường học, từ tiểu học đến đại học không ai dạy cho tôi biết về điều đó? Như vậy thì làm sao tôi có thể sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật được cơ chứ? Làm sao tôi có thể biết rằng ai đó làm một việc gì đó là đúng hay sai và có phạm pháp hay không? Phải chăng đó chính là lý do khiến bao nhiêu người sống an phận, thủ thường, sợ va chạm và hiếm khi nào dám nói lên chính kiến của mình. Liệu có phải vì thế mà nhiều cán bộ thiếu nhân cách đã gian lận, lừa gạt nhân dân, quan liêu, tham nhũng làm cho đất nước thân yêu này trì trệ và chậm phát triển hay không?
Trong giới hạn của một bài viết nhỏ tôi chỉ có thể đặt ra những câu hỏi và tự vấn để chia sẻ quan điểm của mình cùng bạn đọc. Tôi không thể nói cho bạn biết hiến pháp và pháp luật quan trọng và cần thiết như thế nào? Nhưng câu trả lời sẽ rõ nếu bạn thử tìm đọc các Luật Dân sự; Luật Hình sự và Luật Hôn nhân Gia đình. Tin rằng đất nước chúng ta sẽ phát triển nhanh và đồng đều về mọi mặt khi mà mọi người dân đều hiểu biết hiến pháp, pháp luật để sống và làm việc theo đúng hiến pháp và pháp luật. Đoàn thanh niên sẽ thật sự là lực lượng nòng cốt của xã hội, là một “cánh tay đắc lực của Đảng”, nếu phát động thành công phong trào tìm hiểu hiến pháp và pháp luật Việt Nam trong tầng lớp thanh niên.